Tài liệu: Khái niệm hàng tồn kho và hệ thống kiểm soát hàng tồn kho

Rate this post

Khái niệm về hàng tồn kho và hệ thống soát hàng tồn kho là một trong những yếu tố của bài báo cáo thực tập kế toán mà các bạn sinh viên nên tham khảo. Đặc biệt, là các bạn sinh viên chuyên ngành kế toán – viết báo cáo thực tập về Kế toán hàng tồn kho.

Ở bài viết này, Admin chia sẻ đến các bạn Khái niệm và Hệ thống kiểm soát hàng tồn kho để tham khảo lấy ý viết báo cáo thực tập cho riêng mình. Và ở Website: Vietbaocaothuctap.net có rất nhiều đề tài báo cáo thực tập Kế toán và mẫu đề cương chi tiết, các bạn sinh viên có thể ghé xem qua.

Khái niệm về hàng tồn kho

Theo Roberta S. Russell, Bernard W. Taylor (1999), Hàng tồn kho (hàng dự trữ) là những sản phẩm được dự trữ trong một số tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu nội bộ và nhu cầu bên ngoài. Hầu như mọi hình thức tổ chức nào cũng duy trì lượng hàng tồn kho dưới một vài hình thức. Hàng tồn kho là một bộ phận của tài sản ngắn hạn dự trữ cho sản xuất, lưu thông hoặc đang trong quá trình sản xuất chế tạo tại doanh nghiệp. Hầu hết nhiều người nghĩ rằng hàng tồn kho là thành phẩm đang đợi để được bán cho một khách hàng mua lẻ nào đó. Trong một công ty sản xuất, hàng tồn kho thường tồn tại dưới dạng: nguyên vật liệu thô; phụ tùng và vật dụng; hoàn thành một phần công việc đang tiến hành (WIP); lao động; bán thành phẩm; phụ kiện; vốn lưu động; công cụ, máy móc, thiết bị. Theo Roberta S.Russell, Bernard W.Taylor (1999), Quản trị hàng tồn kho là quá trình giám sát có hiệu quả dòng chảy liên tục lượng đầu vào và đầu ra của hàng tồn kho hiện có. Quá trình này thường liên quan đến kiểm soát việc chuyển giao trong các đơn vị để ngăn chặn mức hàng tồn kho trở nên quá cao hoặc suy giảm đến mức có thể đưa hoạt động của các công ty vào tình trạng khó khăn.

2.6.2 Hệ thống kiểm soát hàng tồn kho

Theo Trương Đoàn Thể (2007), hệ thống kiểm soát hàng tồn kho có ba dạng sau:

2.6.2.1 Hệ thống tồn kho liên tục

Hệ thống tồn kho liên tục (còn được gọi là hệ thống liên tục hoặc hệ thống đặt hàng cố định) là việc lưu trữ liên tục về mức tồn kho cho mỗi mặt hàng được duy trì. Bất cứ khi nào hàng tồn kho đang lưu trữ giảm xuống mức được xác định ban đầu hay còn được gọi là điểm tái đặt hàng thì một đơn hàng mới được đặt để bổ sung cho hàng tồn kho được lưu trữ. Đơn hàng được đặt với một lượng cố định giúp giảm thiểu tổng chi phí lưu kho và được gọi là lượng đặt hàng kinh tế. Ưu điểm của một hệ thống liên tục là mức tồn kho được theo dõi liên tục, do đó nhà quản lý luôn biết tình trạng hàng tồn kho. Điều này là thuận lợi cho các mặt hàng quan trọng như: phụ tùng thay thế, nguyên vật liệu và vật tư. Tuy nhiên, duy trì số lượng hàng tồn kho liên tục như vậy cũng có thể gây nên tốn kém.

Xem thêm: Tài liệu: Cơ sở lí luận về kế toán mua bán hàng hóa

2.6.2.2 Hệ thống tồn kho định kỳ

Trong một hệ thống tồn kho định kỳ (còn được gọi là hệ thống đánh giá định kỳ) nghĩa là hàng tồn kho đang lưu trữ được tính vào các khoảng thời gian cụ thể, ví dụ mỗi tuần hoặc tại cuối mỗi tháng. Sau khi hàng tồn kho trong kho được xác định, một đơn đặt hàng mới được đặt với một số lượng cụ thể đưa hàng tồn kho trở lại mức mong muốn. Trong hệ thống này, mức tồn kho là hoàn toàn không được giám sát trong khoảng thời gian giữa các đơn đặt hàng, vì vậy nó có lợi thế là ít hoặc không yêu cầu việc ghi chép. Nhược điểm là việc kiểm soát trực tiếp ít hơn. Điều này thường dẫn đến mức tồn kho cho một hệ thống kiểm kê định kỳ lớn hơn so với hệ thống liên tục nhằm để ngăn ngừa hàng tồn kho được sử dụng sớm không đoán trước trong những giai đoạn cố định. Một hệ thống như vậy cũng đòi hỏi một số lượng đặt hàng mới được xác định mỗi khi một đơn đặt hàng định kỳ được thực hiện.

Xem thêm: Công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty may

2.6.2.3 Kỹ thuật phân tích ABC đối với hàng tồn kho

Theo Trương Đoàn Thể (2007), Hệ thống này phân loại hàng tồn kho theo giá trị của nó đối với công ty, có thể có đến hàng ngàn vật phẩm có nhu cầu độc lập cần được lưu giữ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Việc theo dõi tồn kho tất cả với mức độ quan tâm như nhau sẽ không hợp lý khi có các loại hàng chiếm tỉ lệ rất nhỏ về số lượng nhưng rất lớn về giá trị. Phương pháp này bàn về việc sắp xếp hàng hóa thành 3 nhóm A, B, C theo một tiêu chuẩn xác định với tầm quan trọng giảm dần. Trong đó:

  • – Nhóm A: Bao gồm những hàng hóa dự trữ có giá trị hàng năm cao nhất, chiếm từ 70 – 80% so với tổng giá trị hàng hoá sự trữ, nhưng về mặt số lượng, chủng loại thì chỉ chiếm khoảng 5 – 15 % lượng hàng dự trữ.
  • – Nhóm B: Bao gồm những loại hàng hoá dự trữ có giá trị hàng năm ở mức trung bình, chiếm khoảng 15% so với tổng giá trị hàng dự trữ, nhưng về số lượng, chủng loại chúng chỉ chiếm khoảng 30% tổng số hàng dự trữ.
  • – Nhóm C: Gồm những loại hàng có giá trị thấp, giá trị dự trữ chỉ chiếm khoảng 5 – 10% so với tổng giá trị hàng dự trữ, nhưng số lượng chiếm khoảng 50 – 60% tổng số lượng hàng dự trữ.

Nguồn: Trương Đoàn Thể (2007) Kỹ thuật phân tích ABC sẽ cho kết quả tốt hơn trong dự báo, kiểm soát, đảm bảo tính khả thi của nguồn cung ứng, tối ưu hóa lượng dự trữ. Ngoài việc dựa vào giá trị hằng năm của hàng dự trữ để phân nhóm, người ta còn xét đến các tiêu chuẩn khác như:

  • – Những thay đổi về kỹ thuật dự báo;
  • – Vấn đề cung ứng;
  • – Chất lượng hàng dự trữ;
  • – Giá cả các loại hàng dự trữ; …

Nếu như các bạn muốn triển khai viết báo cáo thực tập Kế toán hàng tồn kho hoặc các Đề tài báo cáo thực tập Kế toán khác. Nếu các bạn sinh viên gặp phải khó khăn khi viết báo cáo thực tập.. Đừng lo lắng, hãy liên hệ ngay đến Viết Thuê Báo Cáo Thực Tập của Admin qua Zalo: 0973 2871 49 để được tư vấn và hỗ trợ nhanh hơn.

 

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Contact Me on Zalo